Breakout là hiện tượng tăng/ giảm độ ngột trong thời gian ngắn có thể dịch chuyển hàng trăm pip và dư sức phá vỡ bất cứ cản kỹ thuật. Các phương pháp dự báo Breakout phổ biến sau :
# 1 - Mô hình tam giác
Momentum yếu dần và tích lũy đến chóp mô hình tam giác, Breakout bắt đầu với nến tăng/ giảm mạnh thủng Trendline cản. Khi vào lệnh theo xu hướng thì Stoploss đặt trên đỉnh tạm thời khi giá quay đầu Breakout phá cản.
Ví dụ:
Nếu SEll thì Stoploss đặt trên Trendline kháng cự phòng trường hợp fake Breakout
# 2 - Cờ Flag
Sau mỗi đợt Breakout tăng/ giảm trước đó thông thường sẽ có giai đoạn củng cố và tạo thành mô hình lá cờ và sẽ tiếp tục xu hướng
# 3 - Kênh ngang Rectangle
Lưu ý: Trade Breakout với mô hình này Stoploss khi giá quay lại đường trung bình kênh ngang. Khi cản Rectangle bị phá vỡ nhưng quay lại kênh thì hơn 80% sẽ test lại cản đối diện và vượt cản này khả năng Breakout thành công rất cao . Để hạn chế tín hiệu nhiễu, khuyến nghị kết hợp công cụ Mometum như : Stoch, MACD để xác định vùng quá mua,Bán.
Mục tiêu lợi nhuận bằng độ cao kênh ngang.
# 4 - Bollinger Bands
Công cụ phổ biến thứ tư là Bollinger Bands
Dãy Band thu hẹp khoảng cách và thị trường biến động mạnh khi 2 line Upper và Lower bật về 2 hướng đối nghịch. Có thể kết hợp kẻ Trendline trên biểu đồ giá để có nhận định sớm hơn.
- Cặp tiền : All
- Khung thời gian : M30 ; H1, H4
- Công cụ : MACD (12, 26, 9) / Tải công cụ MACD 2 line tại đây: Click here
Nguyên tắc mở giao dịch :
Xuất hiện tín hiệu Phân kì và MACD cắt chéo
Nguyên tắc đóng giao dịch :
Chốt lời khi 2 line MACD hội tụ hoặc theo tỷ lệ lời: lỗ = 1,5 :1
Dừng lỗ 20-30 pip khi phá vỡ đỉnh/ đáy tạm thời
Ví dụ:
Trường hợp Phân kì thuận Regular ( ĐẢO CHIỀU )
![]() |
| SELL |
![]() |
| BUY |
Trường hợp Phân kì Thuận : Tiếp diễn xu hướng
![]() |
| Duy trì xu hướng tăng |
![]() |
| Duy trì xu hướng Giảm |
1. Giới thiệu khái quát mô hình Bat Pattern
Mô hình con dơi (Bat Pattern) là một mô hình thể hiện sự hài hòa về giá (harmonic) khá chính xác được khám phá bởi Scott Carney vào năm 2001.
Mô hình này bao gồm 1 sóng chủ lớn theo sau là 2 sóng chủ nhỏ hồi lại (pullback impulsive wave). Các hình vẽ dưới đây mô phỏng các ví dụ về mô hình Bat Pattern lý tưởng cả bullish và bearish. Trong ví dụ bullish thì XA tượng trưng cho sóng chủ lớn với sự đảo chiều của giá tại A. Tương ứng với tỷ lệ Fibonacci thì AB hồi lại sẽ ở mức 38.2% hoặc 50.0% của đoạn giá A trừ X. Tỷ lệ này được biểu diễn theo đoạn XB.
2. Quy tắc:
- Mô hình này đặc trưng với mức hồi lại 88.6% so với đoạn XA của đoạn XD với vùng đảo chiều có thể xảy ra tại điểm D. Điểm B hồi lại dưới 61.8%, tối ưu là 50.0% hoặc 38.2% so với đoạn XA. Mô hình Bat Pattern sử dụng mức hồi tối thiểu của đoạn BC là 161.8%. Ngoài ra mô hình AB=CD trong mô hình Bat Pattern được mở rộng và thường yêu cầu phép tính 1.27AB=CD. Mô hình này có độ chính xác cao và yêu cầu mức Stoploss nhỏ hơn so với hầu hết các mô hình khác.
- Vào trạng thái mua hoặc bán tại điểm D (Mua với mô hình Bullish Bat và bán với mô hình Bearish Bat).
- Vị trí mô hình xuất hiện tùy thuộc vào xu hướng giá chủ đạo: Mô hình Bullish Bat xuất hiện trong xu hướng tăng giá, mô hình Bearish Bat xuất hiện trong xu hướng giảm giá.
(Bài viết chỉ mang tính tham khảo)
Nguồn: sanvangonline
Mô hình con dơi (Bat Pattern) là một mô hình thể hiện sự hài hòa về giá (harmonic) khá chính xác được khám phá bởi Scott Carney vào năm 2001.
Mô hình này bao gồm 1 sóng chủ lớn theo sau là 2 sóng chủ nhỏ hồi lại (pullback impulsive wave). Các hình vẽ dưới đây mô phỏng các ví dụ về mô hình Bat Pattern lý tưởng cả bullish và bearish. Trong ví dụ bullish thì XA tượng trưng cho sóng chủ lớn với sự đảo chiều của giá tại A. Tương ứng với tỷ lệ Fibonacci thì AB hồi lại sẽ ở mức 38.2% hoặc 50.0% của đoạn giá A trừ X. Tỷ lệ này được biểu diễn theo đoạn XB.
2. Quy tắc:
- Mô hình này đặc trưng với mức hồi lại 88.6% so với đoạn XA của đoạn XD với vùng đảo chiều có thể xảy ra tại điểm D. Điểm B hồi lại dưới 61.8%, tối ưu là 50.0% hoặc 38.2% so với đoạn XA. Mô hình Bat Pattern sử dụng mức hồi tối thiểu của đoạn BC là 161.8%. Ngoài ra mô hình AB=CD trong mô hình Bat Pattern được mở rộng và thường yêu cầu phép tính 1.27AB=CD. Mô hình này có độ chính xác cao và yêu cầu mức Stoploss nhỏ hơn so với hầu hết các mô hình khác.
- Vào trạng thái mua hoặc bán tại điểm D (Mua với mô hình Bullish Bat và bán với mô hình Bearish Bat).
- Vị trí mô hình xuất hiện tùy thuộc vào xu hướng giá chủ đạo: Mô hình Bullish Bat xuất hiện trong xu hướng tăng giá, mô hình Bearish Bat xuất hiện trong xu hướng giảm giá.
(Bài viết chỉ mang tính tham khảo)
Nguồn: sanvangonline
1. Giới thiệu khái quát mô hình Crab Pattern
Mô hình con cua (Crab Pattern) là một mô hình thể hiện sự hài hòa về giá (harmonic) khá chính xác được khám phá bởi Scott Carney vào năm 2000.
Mô hình này bao gồm 1 sóng chủ lớn theo sau là 2 sóng chủ nhỏ hồi lại (pullback impulsive wave). Các hình vẽ dưới đây mô phỏng các ví dụ về mô hình Crab Pattern lý tưởng cả bullish và bearish. Trong ví dụ bullish thì XA tượng trưng cho sóng chủ lớn với sự đảo chiều của giá tại A. Tương ứng với tỷ lệ Fibonacci thì AB hồi lại sẽ ở mức 38.2% đến 61.8% của đoạn giá A trừ X. Tỷ lệ này được biểu diễn theo đoạn XB.
2. Quy tắc:
- Mô hình này đặc trưng với vùng đảo chiều được tạo thành bởi mức hồi lại 161.8% so với đoạn XA của đoạn XD với vùng đảo chiều có thể xảy ra tại điểm D. Mô hình Crab Pattern sử dụng mức hồi của đoạn BC là khá lớn dao động.
- Mô hình này có độ chính xác cao và yêu cầu mức Stoploss rất nhỏ và thường tạo sự đảo chiều hầu như chính xác tại vùng đảo chiều tiềm năng.
- Vào trạng thái mua hoặc bán tại điểm D (Mua với mô hình Bullish Crab và bán với mô hình Bearish Crab).
- Vị trí mô hình xuất hiện tùy thuộc vào xu hướng giá chủ đạo: Mô hình Bullish Crab xuất hiện trong xu hướng tăng giá, mô hình Bearish Crab xuất hiện trong xu hướng giảm giá.
(Bài viết chỉ mang tính tham khảo)
Nguồn: sanvangonline
Mô hình con cua (Crab Pattern) là một mô hình thể hiện sự hài hòa về giá (harmonic) khá chính xác được khám phá bởi Scott Carney vào năm 2000.
Mô hình này bao gồm 1 sóng chủ lớn theo sau là 2 sóng chủ nhỏ hồi lại (pullback impulsive wave). Các hình vẽ dưới đây mô phỏng các ví dụ về mô hình Crab Pattern lý tưởng cả bullish và bearish. Trong ví dụ bullish thì XA tượng trưng cho sóng chủ lớn với sự đảo chiều của giá tại A. Tương ứng với tỷ lệ Fibonacci thì AB hồi lại sẽ ở mức 38.2% đến 61.8% của đoạn giá A trừ X. Tỷ lệ này được biểu diễn theo đoạn XB.
2. Quy tắc:
- Mô hình này đặc trưng với vùng đảo chiều được tạo thành bởi mức hồi lại 161.8% so với đoạn XA của đoạn XD với vùng đảo chiều có thể xảy ra tại điểm D. Mô hình Crab Pattern sử dụng mức hồi của đoạn BC là khá lớn dao động.
- Mô hình này có độ chính xác cao và yêu cầu mức Stoploss rất nhỏ và thường tạo sự đảo chiều hầu như chính xác tại vùng đảo chiều tiềm năng.
- Vào trạng thái mua hoặc bán tại điểm D (Mua với mô hình Bullish Crab và bán với mô hình Bearish Crab).
- Vị trí mô hình xuất hiện tùy thuộc vào xu hướng giá chủ đạo: Mô hình Bullish Crab xuất hiện trong xu hướng tăng giá, mô hình Bearish Crab xuất hiện trong xu hướng giảm giá.
(Bài viết chỉ mang tính tham khảo)
Nguồn: sanvangonline
Bài 1: Giới thiệu phương pháp Giao dịch theo mô hình giá Harmonic
Giao dịch theo mô hình giá Harmonic là một phương pháp sử dụng việc nhận diện các mô hình giá đặc biệt và căn tỷ lệ Fibonacci chính xác để xác định các điểm đảo chiều rất khả thi trong các thị trường tài chính. Phương pháp này cho rằng các mô hình hay chu kỳ giao dịch, giống như nhiều mô hình và chu kỳ trong cuộc sống, tự chúng lặp lại. Chìa khóa để nhận diện những mô hình này, và để vào hoặc thoát một trạng thái dựa trên mức độ tính khả thi cao mà hoạt động giá trong lịch sử sẽ xảy ra. Dù những mô hình này không chính xác 100%, những tình huống theo mô hình đã được lịch sử chứng minh. Nếu những mô hình này được nhận diện chính xác thì có thể nhận diện những thời cơ quan trọng với độ rủi ro rất giới hạn.

Cần chú ý rằng Giao dịch theo mô hình giá Harmonic hoạt động trên bất kỳ khung thời gian nào (các đồ thị trong ngày, hàng ngày, hàng tuần hay hàng tháng). Những cơ hội giao dịch rõ ràng nhất xuất hiện trên các đồ thị ngày cho các giao dịch dài hạn. Tuy nhiên các đồ thị giờ có thể tạo cơ hội tuyệt vời cho các giao dịch ngắn hạn hơn hoặc trong ngày. Nguyên tắc quan trọng nhất liên quan đến phương pháp Giao dịch theo mô hình giá Harmonic là khả năng phân biệt các kiểu mô hình giá có tính chu kỳ liên quan đến các điều kiện tỷ lệ và cấu trúc đặc biệt. Những biến động giá thể hiện các chu kỳ tăng trưởng (tăng giá) và suy giảm (giảm giá). Tương tự nhiều tiến trình tăng trưởng có tính chu kỳ trong cuộc sống, những dao động này có thể được tính theo các mối quan hệ tỷ lệ Fibonacci và được phân tích để xác định các tình huống kỹ thuật duy nhất. Khi làm vậy, các giao dịch được tiến hành ở những vùng giá nơi mà giai điệu tự nhiên (Harmonic tức là hài hòa tự nhiên) của thị trường đang thay đổi.
Trong chuỗi bài học này, chúng ta lần lượt nghiên cứu những mô hình giá Harmonic đã và đang được giới trader forex cũng như các thị trường khác ứng dụng rất hiệu quả, bao gồm những mô hình sau đây:
(1) Mô hình Gartley (Gartley Pattern)
(2) Mô hình con dơi (Bat Pattern)
(3) Mô hình con cua (Crab Pattern)
(4) Mô hình con bướm (Ideal Butterfly Pattern)
(5) Mô hình AB=CD (AB=CD Pattern)
(6) Mô hình 1-2-3 (Three Drives Pattern)
Đối với tất cả các mô hình giá Harmonic này, vấn đề là đợi các mô hình hoàn toàn hoàn thiện trước khi vào trạng thái bán hoặc mua (tại điểm đảo chiều tiềm năng).
(Bài viết mang tính tham khảo)
Nguồn: sanvangonline
Giao dịch theo mô hình giá Harmonic là một phương pháp sử dụng việc nhận diện các mô hình giá đặc biệt và căn tỷ lệ Fibonacci chính xác để xác định các điểm đảo chiều rất khả thi trong các thị trường tài chính. Phương pháp này cho rằng các mô hình hay chu kỳ giao dịch, giống như nhiều mô hình và chu kỳ trong cuộc sống, tự chúng lặp lại. Chìa khóa để nhận diện những mô hình này, và để vào hoặc thoát một trạng thái dựa trên mức độ tính khả thi cao mà hoạt động giá trong lịch sử sẽ xảy ra. Dù những mô hình này không chính xác 100%, những tình huống theo mô hình đã được lịch sử chứng minh. Nếu những mô hình này được nhận diện chính xác thì có thể nhận diện những thời cơ quan trọng với độ rủi ro rất giới hạn.
Cần chú ý rằng Giao dịch theo mô hình giá Harmonic hoạt động trên bất kỳ khung thời gian nào (các đồ thị trong ngày, hàng ngày, hàng tuần hay hàng tháng). Những cơ hội giao dịch rõ ràng nhất xuất hiện trên các đồ thị ngày cho các giao dịch dài hạn. Tuy nhiên các đồ thị giờ có thể tạo cơ hội tuyệt vời cho các giao dịch ngắn hạn hơn hoặc trong ngày. Nguyên tắc quan trọng nhất liên quan đến phương pháp Giao dịch theo mô hình giá Harmonic là khả năng phân biệt các kiểu mô hình giá có tính chu kỳ liên quan đến các điều kiện tỷ lệ và cấu trúc đặc biệt. Những biến động giá thể hiện các chu kỳ tăng trưởng (tăng giá) và suy giảm (giảm giá). Tương tự nhiều tiến trình tăng trưởng có tính chu kỳ trong cuộc sống, những dao động này có thể được tính theo các mối quan hệ tỷ lệ Fibonacci và được phân tích để xác định các tình huống kỹ thuật duy nhất. Khi làm vậy, các giao dịch được tiến hành ở những vùng giá nơi mà giai điệu tự nhiên (Harmonic tức là hài hòa tự nhiên) của thị trường đang thay đổi.
Trong chuỗi bài học này, chúng ta lần lượt nghiên cứu những mô hình giá Harmonic đã và đang được giới trader forex cũng như các thị trường khác ứng dụng rất hiệu quả, bao gồm những mô hình sau đây:
(1) Mô hình Gartley (Gartley Pattern)
(2) Mô hình con dơi (Bat Pattern)
(3) Mô hình con cua (Crab Pattern)
(4) Mô hình con bướm (Ideal Butterfly Pattern)
(5) Mô hình AB=CD (AB=CD Pattern)
(6) Mô hình 1-2-3 (Three Drives Pattern)
Đối với tất cả các mô hình giá Harmonic này, vấn đề là đợi các mô hình hoàn toàn hoàn thiện trước khi vào trạng thái bán hoặc mua (tại điểm đảo chiều tiềm năng).
(Bài viết mang tính tham khảo)
Nguồn: sanvangonline
1. Giới thiệu khái quát mô hình Gartley
Mô hình Gartley được khám phá bởi H.M. Gartley, người lần đầu tiên minh họa mô hình này trong cuốn sách "Những lợi nhuận từ thị trường chứng khoán” xuất bản năm 1935. Mô hình bao gồm 1 sóng chủ lớn theo sau là 2 sóng chủ nhỏ hồi lại (pullback impulsive wave). Các hình vẽ dưới đây mô phỏng các ví dụ về mô hình Gartley lý tưởng cả bullish và bearish. Trong ví dụ bullish thì XA tượng trưng cho sóng chủ lớn với sự đảo chiều của giá tại A. Tương ứng với tỷ lệ Fibonacci thì AB hồi lại sẽ ở mức 61.8% của đoạn giá A trừ X. Tỷ lệ này được biểu diễn theo đoạn XB.
Giá tại D là điểm mua (bullish) hoặc bán (bearish). Tại điểm D thì tỷ lệ hồi lại mục tiêu giá cao hơn ban đầu là 61.8% của đoạn CD. Dao động giá từ điểm D đến điểm kế tiếp thường mang lại lợi nhuận rất cao. Những dao động từ điểm D diễn ra rất nhanh và mạnh và chúng theo mô hình này chính xác đến 60% hoặc hơn 60% thời gian.
2. Quy tắc:
- Về lý tưởng thì AB bằng với CD về độ dài thời gian.
- Điểm D hồi lại 62-72% so với đoạn XA.
- Đoạn XD về lý tưởng là 78.6% so với đoạn XA.
- Về lý tưởng thì CD bằng AB.
- Vào trạng thái mua hoặc bán tại điểm D (Mua với mô hình Bullish Gartley và bán với mô hình Bearish Gartley).
- Điểm X thường được đánh giá là giá trị dừng lỗ. Mục tiêu chốt lời lý tưởng cho mô hình Bullish Gartley là D + (0.618 x CD) và mục tiêu chốt lời lý tưởng cho mô hình Bearish Gartley là D - (0.618 x CD).
- Vị trí mô hình xuất hiện tùy thuộc vào xu hướng giá chủ đạo: Mô hình Bullish Gartley xuất hiện trong xu hướng tăng giá, mô hình Bearish Gartley xuất hiện trong xu hướng giảm giá.
(Bài viết chỉ mang tính tham khảo)
Nguồn: sanvangonline
Mô hình Gartley được khám phá bởi H.M. Gartley, người lần đầu tiên minh họa mô hình này trong cuốn sách "Những lợi nhuận từ thị trường chứng khoán” xuất bản năm 1935. Mô hình bao gồm 1 sóng chủ lớn theo sau là 2 sóng chủ nhỏ hồi lại (pullback impulsive wave). Các hình vẽ dưới đây mô phỏng các ví dụ về mô hình Gartley lý tưởng cả bullish và bearish. Trong ví dụ bullish thì XA tượng trưng cho sóng chủ lớn với sự đảo chiều của giá tại A. Tương ứng với tỷ lệ Fibonacci thì AB hồi lại sẽ ở mức 61.8% của đoạn giá A trừ X. Tỷ lệ này được biểu diễn theo đoạn XB.
Giá tại D là điểm mua (bullish) hoặc bán (bearish). Tại điểm D thì tỷ lệ hồi lại mục tiêu giá cao hơn ban đầu là 61.8% của đoạn CD. Dao động giá từ điểm D đến điểm kế tiếp thường mang lại lợi nhuận rất cao. Những dao động từ điểm D diễn ra rất nhanh và mạnh và chúng theo mô hình này chính xác đến 60% hoặc hơn 60% thời gian.
2. Quy tắc:
- Về lý tưởng thì AB bằng với CD về độ dài thời gian.
- Điểm D hồi lại 62-72% so với đoạn XA.
- Đoạn XD về lý tưởng là 78.6% so với đoạn XA.
- Về lý tưởng thì CD bằng AB.
- Vào trạng thái mua hoặc bán tại điểm D (Mua với mô hình Bullish Gartley và bán với mô hình Bearish Gartley).
- Điểm X thường được đánh giá là giá trị dừng lỗ. Mục tiêu chốt lời lý tưởng cho mô hình Bullish Gartley là D + (0.618 x CD) và mục tiêu chốt lời lý tưởng cho mô hình Bearish Gartley là D - (0.618 x CD).
- Vị trí mô hình xuất hiện tùy thuộc vào xu hướng giá chủ đạo: Mô hình Bullish Gartley xuất hiện trong xu hướng tăng giá, mô hình Bearish Gartley xuất hiện trong xu hướng giảm giá.
(Bài viết chỉ mang tính tham khảo)
Nguồn: sanvangonline
Khi giao dịch hoặc phân tích các công cụ tài chính trên đồ thị Metatrader4, đôi khi chúng ta cần xem giá của 2 công cụ tài chính cùng một lúc để có sự thuận lợi nhất định, ví dụ cùng xem giá vàng và giá EURUSD hoặc EURUSD và GBPUSD, đối với chứng khoán Mỹ thì có thể cũng xem chỉ số DJA30 và BAC trên cùng một chart; nó giúp tiết kiệm thời gian cũng như tiện so sánh đối chiếu xu hướng các công cụ tài chính có liên quan với nhau, từ đó tăng tính hiệu quả cho giao dịch và phân tích.
Để hỗ trợ quá trình này, giới forex thường dùng đến chỉ báo OverLayChart.mq4 cho phần mềm Metatrader4. Sau khi hạ tải chỉ báo OverLayChart.mq4, lưu vào thư mục \experts\indicators trong Folder đã cài đặt phần mềm Metatrade4 (ví dụ C:\Program Files\MetaTrader 4\experts\indicators). Mở phần mềm Metatrader4 rồi mở đồ thị của một công cụ tài chính nào đó, ví dụ đồ thị Gold. Sau đó vào Insert >> Indicators >> Custom >> OverLayChart để gắn chỉ báo vào đồ thị Gold.

Lúc này một cửa sổ mới hiện lên. Ở tab Inputs, tại phần biến (Variable) click vào mục giá trị (Value) đổi USDJPY thành công cụ bạn muốn vẽ chart, ví dụ ở đây điền là EURUSD. Ở các mục BullBarColor và BearBarColor bạn có thể tùy chỉnh lần lượt cho màu sắc của nến tăng và nến giảm cho chart của tỷ giá EURUSD.
Sau đó nhấn OK là hoàn thành.
Để hỗ trợ quá trình này, giới forex thường dùng đến chỉ báo OverLayChart.mq4 cho phần mềm Metatrader4. Sau khi hạ tải chỉ báo OverLayChart.mq4, lưu vào thư mục \experts\indicators trong Folder đã cài đặt phần mềm Metatrade4 (ví dụ C:\Program Files\MetaTrader 4\experts\indicators). Mở phần mềm Metatrader4 rồi mở đồ thị của một công cụ tài chính nào đó, ví dụ đồ thị Gold. Sau đó vào Insert >> Indicators >> Custom >> OverLayChart để gắn chỉ báo vào đồ thị Gold.
Lúc này một cửa sổ mới hiện lên. Ở tab Inputs, tại phần biến (Variable) click vào mục giá trị (Value) đổi USDJPY thành công cụ bạn muốn vẽ chart, ví dụ ở đây điền là EURUSD. Ở các mục BullBarColor và BearBarColor bạn có thể tùy chỉnh lần lượt cho màu sắc của nến tăng và nến giảm cho chart của tỷ giá EURUSD.
Sau đó nhấn OK là hoàn thành.
- Cặp tiền : EUR/USD
- Khung thời gian : 30 phút
- Công cụ : MACD (12, 26, 9), Parabolic SAR với thông số ngầm định (0.02, 0.2)
Nguyên tắc mở giao dịch :khi Parabolic SAR cho tín hiệu BUY và các đường MACD cắt nhau hướng lên thì thực hiện mở giao dịch BUY. Khi Parabolic SAR cho tín hiệu SELL và các đường MACD cắt nhau hướng xuống thì thực hiện mở giao dịch SELL.
Nguyên tắc đóng giao dịch : đóng giao dịch khi các đường MACD cắt nhau lần nữa hoặc khi thì trường bắt đầu sideway.
- Cặp tiền : EUR/USD
- Khung thời gian : 30 phút
- Công cụ : MACD (12, 26, 9), Parabolic SAR với thông số ngầm định (0.02, 0.2)
Nguyên tắc mở giao dịch :khi Parabolic SAR cho tín hiệu BUY và các đường MACD cắt nhau hướng lên thì thực hiện mở giao dịch BUY. Khi Parabolic SAR cho tín hiệu SELL và các đường MACD cắt nhau hướng xuống thì thực hiện mở giao dịch SELL.
Nguyên tắc đóng giao dịch : đóng giao dịch khi các đường MACD cắt nhau lần nữa hoặc khi thì trường bắt đầu sideway.
Tạo một kênh hỗ trợ/kháng cự dựa vào các đỉnh và đáy lặp đi lặp lại trước đó và thực hiện giao dịch khi kênh bị phá vỡ.
System giao dịch này không cần đến các công cụ khác và có thể áp dụng cho mọi cặp tiền, mọi khung thời gian khi giá giao động sideway trong một phạm vi nhỏ.
Nguyên tắc mở giao dịch : khi thị trường sideway, dựa vào các đỉnh và đáy trên đồ thị để vẽ 02 đường kháng cự và hỗ trợ. Khi giá phá thủng một trong hai đường và candle hiện tại đóng bên ngoài đường kênh thì thực hiện mở giao dịch buy/sell theo hướng phá thủng kênh. (Nếu giá phá thủng đường kênh nhưng không đóng bên ngoài đường kênh thì xóa bỏ đường kháng cự/hỗ trợ đã vẽ trước đó và vẽ lại đường khác theo đỉnh/đáy mới).
Nguyên tắc đóng giao dịch : không đặt, tuy nhiên thường khi giá phá vỡ kênh sẽ đi một đoạn bằng độ rộng của kênh.
Ưu điểm : rất đơn giản và cực kỳ hữu hiệu. System này có thể mang lại lợi nhuận cho bạn trong hầu hết các giao dịch, nếu muốn thu lợi nhanh thì trader thường đóng ngay candle đầu tiên sau khi mở giao dịch.
Khuyết điểm : Những order gần với đường kênh rất dễ bị mở bởi các biến động giá đột ngột tại các mức hỗ trợ/ kháng cự trước khi sự phá vỡ kênh thực sự xảy ra.
System giao dịch này không cần đến các công cụ khác và có thể áp dụng cho mọi cặp tiền, mọi khung thời gian khi giá giao động sideway trong một phạm vi nhỏ.
Nguyên tắc mở giao dịch : khi thị trường sideway, dựa vào các đỉnh và đáy trên đồ thị để vẽ 02 đường kháng cự và hỗ trợ. Khi giá phá thủng một trong hai đường và candle hiện tại đóng bên ngoài đường kênh thì thực hiện mở giao dịch buy/sell theo hướng phá thủng kênh. (Nếu giá phá thủng đường kênh nhưng không đóng bên ngoài đường kênh thì xóa bỏ đường kháng cự/hỗ trợ đã vẽ trước đó và vẽ lại đường khác theo đỉnh/đáy mới).
Nguyên tắc đóng giao dịch : không đặt, tuy nhiên thường khi giá phá vỡ kênh sẽ đi một đoạn bằng độ rộng của kênh.
Ưu điểm : rất đơn giản và cực kỳ hữu hiệu. System này có thể mang lại lợi nhuận cho bạn trong hầu hết các giao dịch, nếu muốn thu lợi nhanh thì trader thường đóng ngay candle đầu tiên sau khi mở giao dịch.
Khuyết điểm : Những order gần với đường kênh rất dễ bị mở bởi các biến động giá đột ngột tại các mức hỗ trợ/ kháng cự trước khi sự phá vỡ kênh thực sự xảy ra.
Tạo một kênh hỗ trợ/kháng cự dựa vào các đỉnh và đáy lặp đi lặp lại trước đó và thực hiện giao dịch khi kênh bị phá vỡ.
System giao dịch này không cần đến các công cụ khác và có thể áp dụng cho mọi cặp tiền, mọi khung thời gian khi giá giao động sideway trong một phạm vi nhỏ.
Nguyên tắc mở giao dịch : khi thị trường sideway, dựa vào các đỉnh và đáy trên đồ thị để vẽ 02 đường kháng cự và hỗ trợ. Khi giá phá thủng một trong hai đường và candle hiện tại đóng bên ngoài đường kênh thì thực hiện mở giao dịch buy/sell theo hướng phá thủng kênh. (Nếu giá phá thủng đường kênh nhưng không đóng bên ngoài đường kênh thì xóa bỏ đường kháng cự/hỗ trợ đã vẽ trước đó và vẽ lại đường khác theo đỉnh/đáy mới).
Nguyên tắc đóng giao dịch : không đặt, tuy nhiên thường khi giá phá vỡ kênh sẽ đi một đoạn bằng độ rộng của kênh.
Ưu điểm : rất đơn giản và cực kỳ hữu hiệu. System này có thể mang lại lợi nhuận cho bạn trong hầu hết các giao dịch, nếu muốn thu lợi nhanh thì trader thường đóng ngay candle đầu tiên sau khi mở giao dịch.
Khuyết điểm : Những order gần với đường kênh rất dễ bị mở bởi các biến động giá đột ngột tại các mức hỗ trợ/ kháng cự trước khi sự phá vỡ kênh thực sự xảy ra.
System giao dịch này không cần đến các công cụ khác và có thể áp dụng cho mọi cặp tiền, mọi khung thời gian khi giá giao động sideway trong một phạm vi nhỏ.
Nguyên tắc mở giao dịch : khi thị trường sideway, dựa vào các đỉnh và đáy trên đồ thị để vẽ 02 đường kháng cự và hỗ trợ. Khi giá phá thủng một trong hai đường và candle hiện tại đóng bên ngoài đường kênh thì thực hiện mở giao dịch buy/sell theo hướng phá thủng kênh. (Nếu giá phá thủng đường kênh nhưng không đóng bên ngoài đường kênh thì xóa bỏ đường kháng cự/hỗ trợ đã vẽ trước đó và vẽ lại đường khác theo đỉnh/đáy mới).
Nguyên tắc đóng giao dịch : không đặt, tuy nhiên thường khi giá phá vỡ kênh sẽ đi một đoạn bằng độ rộng của kênh.
Ưu điểm : rất đơn giản và cực kỳ hữu hiệu. System này có thể mang lại lợi nhuận cho bạn trong hầu hết các giao dịch, nếu muốn thu lợi nhanh thì trader thường đóng ngay candle đầu tiên sau khi mở giao dịch.
Khuyết điểm : Những order gần với đường kênh rất dễ bị mở bởi các biến động giá đột ngột tại các mức hỗ trợ/ kháng cự trước khi sự phá vỡ kênh thực sự xảy ra.
Hệ thống này dựa trên nguyên tắc xác định các mức hỗ trợ và kháng cự và giao dịch khi mức kháng cự hoặc hỗ trợ bị phá vỡ.
Hệ thống giao dịch này chỉ cần đồ thị và không giới hạn cặp tiền, khung thời gian.
Nguyên tắc mở giao dịch :khi giá vượt qua “đường trục” (đường nét đứt ở hình bên dưới) được kẻ bằng cách sử dụng đỉnh/đáy trước đó và đóng bên trên (đối với xu hướng lên) hoặc bên dưới (đối với xu hướng xuống) thì tiến hành mở giao dịch BUY/SELL
Nguyên tắc đóng giao dịch : không đặt. Tuy nhiên, để xác định điểm đóng giao dịch bạn có thể sử dụng Fibonacci hoặc có thể đo khoảng cách giữa điểm 2 và điểm 3.
Bổ sung : bạn có thể thêm công cụ MACD (12,26,9). Hãy xem nguyên tắc mở một giao dịch SELL :
Khi đường MACD cắt nhau hướng xuống, bạn sẽ chờ dạng 1-2-3 hình thành. Khi giá bắt đầu “tấn công” đường trục thì bạn hãy kiểm tra xem MACD vẫn còn trong xu hướng SELL hay không (02 đường MACD hướng xuống). Khi giá đóng bên dưới đường trục thì tiến hành mở giao dịch SELL.
Cùng đồ thị trên nhưng thêm đường MACD (12, 26, 9).
Ưu điểm : 100% cho lợi nhuận.
Nguyên tắc đóng giao dịch bổ sung : sử dụng công cụ Fibonacci Expansion (FE). Khi sử dụng Fibonacci Expansion trên đồ thị, bắt đầu với điểm 1, sau đó kéo FE chạm tất cả các điểm 1-2-3 (đường đỏ trong hình bên dưới). Mục tiêu thu lợi nhuận của bạn sẽ là mức Fibonacci Expansion 161.8.
Đường Stochastis được thêm vào chỉ để bạn dễ thấy các đỉnh/đáy và không phải khó nhọc trong việc xác định các điểm 1-2-3.
Hệ thống này dựa trên nguyên tắc xác định các mức hỗ trợ và kháng cự và giao dịch khi mức kháng cự hoặc hỗ trợ bị phá vỡ.
Hệ thống giao dịch này chỉ cần đồ thị và không giới hạn cặp tiền, khung thời gian.
Nguyên tắc mở giao dịch :khi giá vượt qua “đường trục” (đường nét đứt ở hình bên dưới) được kẻ bằng cách sử dụng đỉnh/đáy trước đó và đóng bên trên (đối với xu hướng lên) hoặc bên dưới (đối với xu hướng xuống) thì tiến hành mở giao dịch BUY/SELL
Nguyên tắc đóng giao dịch : không đặt. Tuy nhiên, để xác định điểm đóng giao dịch bạn có thể sử dụng Fibonacci hoặc có thể đo khoảng cách giữa điểm 2 và điểm 3.
Bổ sung : bạn có thể thêm công cụ MACD (12,26,9). Hãy xem nguyên tắc mở một giao dịch SELL :
Khi đường MACD cắt nhau hướng xuống, bạn sẽ chờ dạng 1-2-3 hình thành. Khi giá bắt đầu “tấn công” đường trục thì bạn hãy kiểm tra xem MACD vẫn còn trong xu hướng SELL hay không (02 đường MACD hướng xuống). Khi giá đóng bên dưới đường trục thì tiến hành mở giao dịch SELL.
Cùng đồ thị trên nhưng thêm đường MACD (12, 26, 9).
Ưu điểm : 100% cho lợi nhuận.
Nguyên tắc đóng giao dịch bổ sung : sử dụng công cụ Fibonacci Expansion (FE). Khi sử dụng Fibonacci Expansion trên đồ thị, bắt đầu với điểm 1, sau đó kéo FE chạm tất cả các điểm 1-2-3 (đường đỏ trong hình bên dưới). Mục tiêu thu lợi nhuận của bạn sẽ là mức Fibonacci Expansion 161.8.
Đường Stochastis được thêm vào chỉ để bạn dễ thấy các đỉnh/đáy và không phải khó nhọc trong việc xác định các điểm 1-2-3.
Cặp tiền : EUR/USD (ưu tiên) hoặc cặp tiền bất kỳ
Khung thời gian : 30 phút
Công cụ : MACD (5,26,1), Stochastic (14,3,3), EMA 3, SMA 13
Nguyên tắc mở giao dịch : chờ xuất hiện phân kỳ giữa giá và MACD hoặc giữa giá và Stochastic.
Khi phân kỳ xuất hiện, đợi EMA 3 và SMA 13 cắt nhau thì mở giao dịch theo hướng của EMA 3. Đặt stop loss 26 pips.
Thu một nửa lợi nhuận khi đạt 20 pips, phần còn lại đi tiếp theo giá bằng
trailing stop.
Phân kỳ trên Stochastic cũng được sử dụng giống như trên MACD. Lý do sử dụng cả 02 công cụ MACD và Stochastic là vì khi phân kỳ xuất hiện trên một công cụ thì công cụ kia có thể vẫn chưa xuất hiện.
Cặp tiền : EUR/USD (ưu tiên) hoặc cặp tiền bất kỳ
Khung thời gian : 30 phút
Công cụ : MACD (5,26,1), Stochastic (14,3,3), EMA 3, SMA 13
Nguyên tắc mở giao dịch : chờ xuất hiện phân kỳ giữa giá và MACD hoặc giữa giá và Stochastic.
Khi phân kỳ xuất hiện, đợi EMA 3 và SMA 13 cắt nhau thì mở giao dịch theo hướng của EMA 3. Đặt stop loss 26 pips.
Thu một nửa lợi nhuận khi đạt 20 pips, phần còn lại đi tiếp theo giá bằng
trailing stop.
Phân kỳ trên Stochastic cũng được sử dụng giống như trên MACD. Lý do sử dụng cả 02 công cụ MACD và Stochastic là vì khi phân kỳ xuất hiện trên một công cụ thì công cụ kia có thể vẫn chưa xuất hiện.
“Double bottom” là một mẫu đảo chiều quan trọng hình thành sau một đợt giảm giá mạnh. Mẫu này được tạo bởi 02 đáy liên tiếp gần bằng nhau với một đỉnh vừa phải ở giữa.
Tuy có thể có những biến thể, mẫu double top kinh điển thường biểu thị có một thay đổi trong xu hướng dài hạn hoặc trung hạn, từ xu hướng giảm chuyển sang xu hướng tăng. Các double bottom có thể hình thành dọc đường xu hướng xuống, nhưng việc đảo chiều không thể xác định cho đến khi nào mức hỗ trợ chính bị phá vỡ. Để rõ ràng hơn chúng ta sẽ xem những điểm chính trong quá trình hình thàng double bottom thông qua một ví dụ.
1. Xu hướng : với bất kỳ mẫu đảo chiều nào, phải có một xu hướng để đảo chiều. Trong trường hợp double bottom, một xu hướng lên trong vài tháng là điều quan trọng.
2. Đáy đầu tiên : đáy đầu tiên là điểm thấp nhất của xu hướng hiện tại. Theo thông thường, khi đáy đầu tiên được hình thành xu hướng xuống vẫn chưa đảo chiều.
3. Đỉnh : sau đáy đầu tiên, một đợt tăng giá khoảng 10 – 20%. Volumn trên đợt tăng giá từ đáy đầu tiên thường không quan trọng, nhưng nó có thể là một báo hiệu trước. Giá có thể dao động quanh đỉnh này trước khi đi xuống trở lại. Dao động này cho thấy cầu đang tăng nhưng không đủ mạnh để có thể breakout.
4. Đáy thứ hai : Đợt giảm giá từ đỉnh thường xảy ra với volume thấp và gặp phái hỗ trợ từ đáy trước đó. Dù gặp phải sự hỗ trợ tại đáy trước đó, chúng ta chỉ mới có khả năng tạo thành một double bottom. Mẫu double bottom vẫn cần được xác định. Thời gian giữa các đáy có thể thay đổi từ vài tuần đến nhiều tháng, thông thường là 1-3 tháng. Thông thường đáy thứ hai chênh lệch so với đáy trước đó khoảng 3%.
5. Tăng giá từ đáy : volume trong mẫu double bottom quan trọng hơn trong mẫu double top. Volume và áp lực mua tăng nhanh cần phải rõ ràng trong suốt đợt tăng giá từ đáy thứ hai. Đợt tăng giá có thể tạo thành 1 hoặc 2 khoảng trống (gap) và cũng cho thấy khả năng đảo chiều có thể xảy ra.
6. Phá vỡ mức kháng cự : Dù giá tăng đến mức kháng cự thì double bottom và đảo hướng vẫn chưa hoàn toàn được xác định. Phá vỡ mức kháng cự (điểm cao nhất giữa 02 đáy) mới xác định mẫu double bottom hình thành. Lúc này cũng xuất hiện xung trên volume và một đợt tăng giá nhanh.
7. Mức kháng cự trở thành mức hỗ trợ : Sau khi bị phá vỡ, mức kháng cự trở thành mức hỗ trợ và đôi khi có một đợt giảm giá test lại mức hỗ trợ mới này. Đợt test này cho bạn một cơ hội thứ hai để đóng một giao dịch short và mở tiếp một giao dịch long.
8. Mục tiêu thu lợi (Price Target): khoảng cách từ mức kháng cự đến đáy được sử dụng làm target.
Điều quan trọng cần nhớ rằng double bottom là một mẫu đảo chiều dài hạn nên không thể hình thành trong vài ngày. Việc tạo thành đáy có thể mất vài tuần, thông thường ít nhất là 4 tuần giữa các đáy. Việc hình thành các đáy thường mất nhiều thời gian hơn so với tạo các đỉnh và bạn cần phải kiên nhẫn. Đợt tăng giá từ đáy đầu tiên khoảng 10 – 20%. Đáy thứ 2 tạo thành nên thấp hơn 3% so với đáy trước và volume đợt tăng giá thứ hai thì tăng cao hơn. Các công cụ volume như Chaikin Money Flow, OBV và Accumulation/Distribution có thể được sử dụng để tìm các tín hiệu cho biết áp lực mua tăng. Cũng như với doble top, việc quan trọng là phải đợi đến khi mức kháng cự bị phá vỡ.
Sau khi xu hướng xuống gần cả năm, PEE tạo thành một double bottom và phá vỡ mức kháng cự với một volume tăng đột biến.
1. Từ một đỉnh gần 50 trong tháng 04/99, giá của PFE giảm đến 30 vào tháng 11/99 tạo một đáy mới.
2. Giá cổ phiếu tăng hơn 20% từ đáy và tạo thành vùng đỉnh khoảng 37,5. Volume tăng và đạt đỉnh cao nhất ngày 13/01 (mũi tên xanh) kể từ sau ngày 5/11/99.
3. Sau khi đẩy xuống một đoạn ngắn, một đợt cố gắng phá vỡ mức kháng cự kế tiếp lại bị thất bại. Volume trên những ngày tăng giá cao hơn so với những ngày giảm giá. Giá dao động trong khoảng trên 30 một thời gian cho thấy cầu đang mạnh lên.
4. Đợt giảm giá từ 37,5 trở lại 30 thì mạnh, nhưng volume thì không đột biến. Có 2 ngày khi volume trên trên Chaikin Money Flow giảm xuống gần -10%. Tuy nhiên, dòng tiền cho thấy suốt đợt giảm giá vẫn duy trì hầu như trên zero khoảng 10%.
5. Đáy thứ 2 hình thành bằng đúng đáy trước đó (30) và khoảng cách giữa 02 đáy trên 2 tháng.
6. Đợt tăng giá từ đáy thứ 2 cùng với đột biến trên volume. Sau khi rời khỏi đáy thứ 2, có 5 trong 6 ngày giá tăng có volume vượt trên đường EMA 60. Chaikin Money Flow hầu như không bao giờ yếu, CMF biến động trên 20%.
7. Mức kháng cự 37,5 bị phá vỡ với một gap lên và một đột biến khác trên volume. Sau khi lên đến 40, giá quay trở xuống đến mức kháng cự 37,5 và lúc này trở thành mức hỗ trợ. Giá lại quay trở lên và vượt qua 45.
“Double bottom” là một mẫu đảo chiều quan trọng hình thành sau một đợt giảm giá mạnh. Mẫu này được tạo bởi 02 đáy liên tiếp gần bằng nhau với một đỉnh vừa phải ở giữa.
Tuy có thể có những biến thể, mẫu double top kinh điển thường biểu thị có một thay đổi trong xu hướng dài hạn hoặc trung hạn, từ xu hướng giảm chuyển sang xu hướng tăng. Các double bottom có thể hình thành dọc đường xu hướng xuống, nhưng việc đảo chiều không thể xác định cho đến khi nào mức hỗ trợ chính bị phá vỡ. Để rõ ràng hơn chúng ta sẽ xem những điểm chính trong quá trình hình thàng double bottom thông qua một ví dụ.
1. Xu hướng : với bất kỳ mẫu đảo chiều nào, phải có một xu hướng để đảo chiều. Trong trường hợp double bottom, một xu hướng lên trong vài tháng là điều quan trọng.
2. Đáy đầu tiên : đáy đầu tiên là điểm thấp nhất của xu hướng hiện tại. Theo thông thường, khi đáy đầu tiên được hình thành xu hướng xuống vẫn chưa đảo chiều.
3. Đỉnh : sau đáy đầu tiên, một đợt tăng giá khoảng 10 – 20%. Volumn trên đợt tăng giá từ đáy đầu tiên thường không quan trọng, nhưng nó có thể là một báo hiệu trước. Giá có thể dao động quanh đỉnh này trước khi đi xuống trở lại. Dao động này cho thấy cầu đang tăng nhưng không đủ mạnh để có thể breakout.
4. Đáy thứ hai : Đợt giảm giá từ đỉnh thường xảy ra với volume thấp và gặp phái hỗ trợ từ đáy trước đó. Dù gặp phải sự hỗ trợ tại đáy trước đó, chúng ta chỉ mới có khả năng tạo thành một double bottom. Mẫu double bottom vẫn cần được xác định. Thời gian giữa các đáy có thể thay đổi từ vài tuần đến nhiều tháng, thông thường là 1-3 tháng. Thông thường đáy thứ hai chênh lệch so với đáy trước đó khoảng 3%.
5. Tăng giá từ đáy : volume trong mẫu double bottom quan trọng hơn trong mẫu double top. Volume và áp lực mua tăng nhanh cần phải rõ ràng trong suốt đợt tăng giá từ đáy thứ hai. Đợt tăng giá có thể tạo thành 1 hoặc 2 khoảng trống (gap) và cũng cho thấy khả năng đảo chiều có thể xảy ra.
6. Phá vỡ mức kháng cự : Dù giá tăng đến mức kháng cự thì double bottom và đảo hướng vẫn chưa hoàn toàn được xác định. Phá vỡ mức kháng cự (điểm cao nhất giữa 02 đáy) mới xác định mẫu double bottom hình thành. Lúc này cũng xuất hiện xung trên volume và một đợt tăng giá nhanh.
7. Mức kháng cự trở thành mức hỗ trợ : Sau khi bị phá vỡ, mức kháng cự trở thành mức hỗ trợ và đôi khi có một đợt giảm giá test lại mức hỗ trợ mới này. Đợt test này cho bạn một cơ hội thứ hai để đóng một giao dịch short và mở tiếp một giao dịch long.
8. Mục tiêu thu lợi (Price Target): khoảng cách từ mức kháng cự đến đáy được sử dụng làm target.
Điều quan trọng cần nhớ rằng double bottom là một mẫu đảo chiều dài hạn nên không thể hình thành trong vài ngày. Việc tạo thành đáy có thể mất vài tuần, thông thường ít nhất là 4 tuần giữa các đáy. Việc hình thành các đáy thường mất nhiều thời gian hơn so với tạo các đỉnh và bạn cần phải kiên nhẫn. Đợt tăng giá từ đáy đầu tiên khoảng 10 – 20%. Đáy thứ 2 tạo thành nên thấp hơn 3% so với đáy trước và volume đợt tăng giá thứ hai thì tăng cao hơn. Các công cụ volume như Chaikin Money Flow, OBV và Accumulation/Distribution có thể được sử dụng để tìm các tín hiệu cho biết áp lực mua tăng. Cũng như với doble top, việc quan trọng là phải đợi đến khi mức kháng cự bị phá vỡ.
Sau khi xu hướng xuống gần cả năm, PEE tạo thành một double bottom và phá vỡ mức kháng cự với một volume tăng đột biến.
1. Từ một đỉnh gần 50 trong tháng 04/99, giá của PFE giảm đến 30 vào tháng 11/99 tạo một đáy mới.
2. Giá cổ phiếu tăng hơn 20% từ đáy và tạo thành vùng đỉnh khoảng 37,5. Volume tăng và đạt đỉnh cao nhất ngày 13/01 (mũi tên xanh) kể từ sau ngày 5/11/99.
3. Sau khi đẩy xuống một đoạn ngắn, một đợt cố gắng phá vỡ mức kháng cự kế tiếp lại bị thất bại. Volume trên những ngày tăng giá cao hơn so với những ngày giảm giá. Giá dao động trong khoảng trên 30 một thời gian cho thấy cầu đang mạnh lên.
4. Đợt giảm giá từ 37,5 trở lại 30 thì mạnh, nhưng volume thì không đột biến. Có 2 ngày khi volume trên trên Chaikin Money Flow giảm xuống gần -10%. Tuy nhiên, dòng tiền cho thấy suốt đợt giảm giá vẫn duy trì hầu như trên zero khoảng 10%.
5. Đáy thứ 2 hình thành bằng đúng đáy trước đó (30) và khoảng cách giữa 02 đáy trên 2 tháng.
6. Đợt tăng giá từ đáy thứ 2 cùng với đột biến trên volume. Sau khi rời khỏi đáy thứ 2, có 5 trong 6 ngày giá tăng có volume vượt trên đường EMA 60. Chaikin Money Flow hầu như không bao giờ yếu, CMF biến động trên 20%.
7. Mức kháng cự 37,5 bị phá vỡ với một gap lên và một đột biến khác trên volume. Sau khi lên đến 40, giá quay trở xuống đến mức kháng cự 37,5 và lúc này trở thành mức hỗ trợ. Giá lại quay trở lên và vượt qua 45.
Trên một biểu đồ, nếu chèn quá nhiều Indicator ắt hẳn sẽ bị rối, nên nhiều Trader theo trường phái Naked Trading-Trade theo mô hình giá, các mô hình phổ biến như:
+ Tam giác cân
+ Tam giác tăng
+ Tam giác giảm
Ví dụ # 1: Mô hình tam giác TĂNG
Mua khi thị trường tăng mạnh, PHÁ VỠ cản trên mô hình TAM GIÁC thì mua vào
Dừng lỗ khi giá giảm trở lại phá vỡ cản dưới mô hình tam giác
Mục tiêu chốt lời theo các mức cản
Ví dụ # 2 : Mô hình TAM GIÁC CÂN
Trên một biểu đồ, nếu chèn quá nhiều Indicator ắt hẳn sẽ bị rối, nên nhiều Trader theo trường phái Naked Trading-Trade theo mô hình giá, các mô hình phổ biến như:
+ Tam giác cân
+ Tam giác tăng
+ Tam giác giảm
Ví dụ # 1: Mô hình tam giác TĂNG
Mua khi thị trường tăng mạnh, PHÁ VỠ cản trên mô hình TAM GIÁC thì mua vào
Dừng lỗ khi giá giảm trở lại phá vỡ cản dưới mô hình tam giác
Mục tiêu chốt lời theo các mức cản
Ví dụ # 2 : Mô hình TAM GIÁC CÂN
Các mức hỗ trợ, Kháng cự đóng vai trò rất quan trọng trong việc xác định điểm vào/ thoát , Chúng ta không nên dùng các Indicator tự động xác định R/S ít phổ biến. Đơn giản vì giá chi bật lại/đảo chiều tại các mức cản mà nhiều Trader cùng nhận ra . Một số phương pháp kinh điển mang lại hiệu quả trong thời gian dài .
# 1 - Cản do chính thị trường tạo ra
Đó là các điểm thị trường test nhiều lần , Ví dụ:

Khi Sideway hoặc điều chỉnh sau xu hướng rõ ràng sẽ hình thành các mức cản , Các điểm này được test nhiều lần sẽ thành cản "cứng"
# 2 - Trendline - Channel
# 3 - Fibonacci



























